| Tìm Hiểu Về Tước Hiệu Mẹ Đồng Công |
Vũ Văn An |
| Đồng Công Cứu Chuộc (2) |
VietCatholic News (Thứ Năm 08/05/2008 04:05) Đồng Công Cứu Chuộc (2) Phần trước có nhắc đến việc làm của Giáo Sư Mark Miravalle và chiến dịch xin chữ ký của ông cho một thỉnh nguyện thư để Đức Giáo Hoàng công bố tín điều Đức Mẹ Đồng Công Cứu Chuộc. Không những thế, ông còn thành lập ra phong trào gọi là Vox Populi Mariae Mediatrici (Tiếng Dân Của Đức Maria Trung Gian) để cổ vũ cho công việc trên. Năm 2001, ông cho công bố một tài liệu nhằm trả lời bẩy phản chứng người ta thường nêu ra để chống lại tín điều này. Các phản chứng này được tạp chí New York Times tổng hợp từ các báo chí khác, nhân dịp họ đề cập đến phong trào của Giáo Sư Mark Miravalle vào ngày 23 tháng Mười Hai năm 2000. Ngang Hàng Với Chúa Giêsu Phản chứng đầu tiên là nếu xưng tụng Đức Maria là đấng đồng công cứu chuộc, chả hóa ra người ngang hàng với Chúa Giêsu, đấng trung gian duy nhất hay sao? Theo giáo sư Miravalle, suy nghĩ như trên không đúng. Chữ “đồng” trong “đồng công” không có nghĩa là “bằng nhau”, “ngang nhau”, “cùng một hàng” mà chỉ có nghĩa là “cùng với”, “với”. Thành ra, đấng đồng công cứu chuộc” chỉ có nghĩa là “đấng cùng cứu chuộc với”. Quả thật tiền từ “co” trong “co-redemptrix” là do tiếng Latinh “cum” có nghĩa là “cùng với”. Nên “co-redemptrix” khi áp dụng vào Đức Mẹ có ý chỉ sự cộng tác hết sức đặc biệt của Người với và dưới quyền Con thần thánh của Người là Chúa Giêsu Kitô, trong việc cứu chuộc gia đình nhân loại, như đã tỏ hiện trong Thánh Kinh Kitô Giáo. Với lời “xin vâng” tự ý và tích cực của Đức Maria khi đáp lại lời của thiên thần Gabriel mời Người làm mẹ Chúa Giêsu (Lc 1:38), Người đã hợp tác một cách đặc biệt vào công trình cứu chuộc bằng việc mang lại cho Đấng Cứu Chuộc thần thánh thân xác phàm trần, vốn là dụng cụ để thực hiện công cuộc cứu chuộc loài người. Thánh Phaolô trong thư Do Thái từng khẳng nhận: “Ta đã được thánh hóa nhờ việc dâng hiến mình Chúa Giêsu Kitô một lần vĩnh viễn” (Dt 10:10). Nhưng thân xác ấy chỉ có là nhờ sự hợp tác tự ý, tích cực và độc đáo của Đức Maria. Nhờ việc trao ban xác phàm cho “Ngôi Lời thành xác phàm” (Ga 1:14), Đấng sau đó đã cứu chuộc nhân loại, nên Trinh Nữ Nadarét hết sức xứng đáng tước hiệu đồng công cứu chuộc. Đúng như lời Chân Phúc Têrêxa thành Calcutta từng nói: “Dĩ nhiên, Đức Maria là Đấng Đồng Công chuộc tội, vì Người trao ban thân xác cho Chúa Giêsu, và chính thân xác Chúa Giêsu đã cứu chuộc ta” (1). Lời tiên tri trong Tân Ước của Simeon tại đền thờ cũng cho thấy sứ mệnh đầy đau khổ, có tính đồng cứu chuộc của Đức Maria trong sự hiệp nhất trực tiếp với người Con Cứu Chuộc để cứu chuộc nhân loại: “Simeon chúc phúc cho các ngài và nói với Đức Maria, Mẹ Người rằng: ‘Này đây, hài nhi này sẽ làm cớ cho nhiều người ở Israel ngã xuống và trỗi dậy, và sẽ trở nên dấu chỉ mâu thuẫn, và một lưỡi gươm sẽ đâm thâu qua lòng bà” (Lc 2:34-35). Dù trong tâm trí các giáo phụ và các vị tiến sĩ của Giáo hội, không bao giờ có ý nghĩ là công trình và công phúc cứu chuộc của Chúa Giêsu Kitô lại hoàn toàn và trong căn để tùy thuộc sự hợp tác của Đức Maria, nhưng Truyền thống Kitô giáo tiên khởi không ngần ngại gì mà không giảng dạy rằng việc hợp tác thân mật vô tiền khoáng hậu của người phụ nữ này, tức Đức Maria, trong việc “mua lại” hay cứu chuộc toàn bộ nhân loại khỏi ách nô lệ của Satan. Như nhân loại đã bị một người đàn ông và một người đàn bà bán đứng thế nào, thì Ý Thiên Chúa cũng muốn cho nhân loại được một Người Đàn Ông và một người đàn bà mua lại thể ấy. Đại Kết Kitô Giáo Phản chứng thứ hai cho rằng xưng tụng Đức Maria là đấng đồng công cứu chuộc là đi ngược lại phong trào Đại Kết, dẫn đến chia rẽ trầm trọng giữa Công Gaío và các hệ phái Kitô giáo khác. Trong thông điệp “Ut Unum Sint” (xin cho chúng nên một) (Ga 17:21), Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã định nghĩa phong trào đại kết Kitô giáo đích thực bằng các hạn từ cầu nguyện như “là linh hồn” và đối thoại như là “thân xác” cùng làm việc hướng tới mục tiêu tối hậu là hiệp nhất Kitô giáo một cách chân thực và bền bỉ (10). Đồng thời, sự thúc bách Công Giáo đòi ta làm việc và cố gắng đạt hiệp nhất Kitô giáo không hề cho phép ta giảm thiểu hay phá hoại bất cứ giáo huấn học lý nào của Công Giáo, bởi những việc như thế vừa thiếu tính toàn vẹn Công Giáo mà đồng thời còn dẫn cuộc đối thoại với các Kitô hữu không Công Giáo ra ngoài các điều Giáo Hội Công Giáo thực sự tin. Như Công Đồng Vatican II đã dạy một cách rõ rệt về cuộc đối thoại đại kết, “dĩ nhiên, điều thiết yếu là học lý phải được trình bày rõ ràng trong tính toàn bộ của nó. Không gì xa lạ với tinh thần đại kết bằng phương thức giảng hòa giả tạo, một phương thức phá hoại sự tinh ròng của học lý Công Giáo và che khuất ý nghĩa chân thực chắc chắn của nó” (11). Đức Gioan Phaolô II còn giải thích thêm: “Nói về việc nghiên cứu các phạm vi bất đồng, Công Đồng đòi hỏi toàn bộ học lý phải được trình bày một cách rõ ràng. Đồng thời, Công Đồng cũng yêu cầu rằng cách thế và phương pháp trình bày đức tin Công Giáo không được cản trở cuộc đối thoại với các anh chị em của chúng ta… Dĩ nhiên, việc hiệp thông trọn vẹn phải xẩy ra qua sự chấp nhận toàn bộ chân lý qua đó Chúa Thánh Thần hướng dẫn các môn đệ của Chúa Kitô. Do đó, mọi hình thức của chủ nghĩa giảm thiểu hay ‘nhất trí’ giả tạo cần được tuyệt đối xa lánh” (12). Như thế cái hiểu chính xác về đại kết theo quan điểm Công Giáo là lệnh truyền chủ yếu đòi Giáo Hội phải cầu nguyện, phải đối thoại, và cùng làm việc trong bác ái và trong chân lý để kiếm tìm sự hiệp nhất Kitô giáo đích thực giữa mọi anh chị em trong Chúa Kitô, mà không thỏa hiệp khi phải trình bày các giáo huấn học lý đầy đủ của Giáo Hội. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, người tha thiết với sự hiệp nhất Kitô giáo chân thực, cũng đã khẳng định rằng: “Sự hiệp nhất được Thiên Chúa ước muốn chỉ có thể đạt được bằng cách gắn bó với mọi nội dung của đức tin mạc khải trong tính toàn vẹn của nó. Trong các vấn đề đức tin, thỏa hiệp là mâu thuẫn với Thiên Chúa, Đấng vốn là chân lý. Trong Nhiệm Thể Chúa Kitô, đấng “là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14:6), ai dám coi là hợp pháp việc hòa giải mà lại làm hại đến chân lý cho được?” (13). Giờ đây, ta hãy áp dụng cái hiểu về đại kết nói trên vào vấn đề Đức Maria là đấng đồng công cứu chuộc. Tước hiệu đồng công cứu chuộc dành cho Đức Maria này đã được giáo huấn giáo hoàng nhiều lần nhắc đến, và học lý về việc đồng công cứu chuộc của Đức Maria hiểu như sự hợp tác độc đáo của Người với Chúa Giêsu Kitô và dưới quyền của Chúa Giêsu Kitô trong công trình cứu chuộc nhân loại đã góp phần tạo nên giáo huấn học lý được lặp đi lặp lại nhiều lần của Công Đồng Vatican II: … Trong tư cách nữ tỳ Thiên Chúa, Người hoàn toàn hiến mình cho con người và công việc của Con mình, dưới quyền và cùng với người Con ấy, Người phục vụ mầu nhiệm cứu chuộc, nhờ ơn thánh của Thiên Chúa Toàn Năng. Do đó, các giáo phụ đã chính xác coi Đức Mẹ không chỉ được Thiên Chúa đính kết cách thụ động, mà như người tự ý hợp tác vào công trình cứu chuộc con người bằng đức tin và đức vâng lời (14). Xa hơn chút nữa, Công Đồng cho hay: … Như thế, Đức Trinh Nữ Diễm Phúc tiến triển trên hành trình đức tin của Người, và trung thành kiên vững trong hiệp nhất với Con của Người cho đến tận thập giá, nơi, theo đúng kế hoạch của Thiên Chúa, Người đứng cùng chịu với người Con duy nhất do mình sinh ra cái cường độ trong cơn thống khổ của người Con, tự liên kết mình với hy lễ của người Con ấy bằng trái tim của một người mẹ, và âu yếm chấp nhận sự dâng hiến hy lễ vốn từ Người sinh ra” (15). Công Đồng còn thêm: “Người thụ thai, sinh hạ và dưỡng nuôi Chúa Kitô, Người dâng Con cho Chúa Cha trong đền thờ, cùng chia sẻ sự thống khổ của Con mình khi người Con ấy chết trên thập giá. Như thế, một cách hết sức độc đáo, bằng đức vâng lời, đức tin, đức cậy và đức mến bừng cháy, Người đã hợp tác vào công trình của Chúa Cứu Thế trong việc tái lập sự sống siêu nhiên cho các linh hồn. Vì lý do đó, Người là mẹ của chúng ta trong trật tự ơn thánh” (16). Bởi thế, rõ ràng việc đồng công cứu chuộc của Đức Mẹ đã làm nên giáo huấn học lý của Giáo Hội Công Giáo và trong tư cách ấy đã được trình bày trong bất cứ tuyên bố chân thực nào về giáo huấn Công Giáo, kể cả trong lãnh vực đối thoại đại kết chân chính. Cho nên, chủ trương rằng việc đồng công cứu chuộc của Đức Mẹ cả trong tước hiệu lẫn trong học lý đi ngược lại sứ mệnh đại kết của Giáo Hội, trong căn bản, quả đã hiểu lầm chính sứ mệnh đại kết ấy của Giáo Hội vậy. Trọn vẹn học lý Công Giáo, trong đó có học lý về sự đồng công cứu chuộc của Đức Maria, phải được lồng trong bất cứ cuộc đối thoại chân chính nào nhằm tìm kiếm hiệp nhất Kitô giáo. Mặt khác, việc cố ý vắng bóng Đức Maria đồng công cứu chuộc trong cuộc đối thoại đại kết trọn vẹn và trong sứ mệnh đại kết xét chung của Giáo Hội sẽ thiếu tính toàn vẹn và tính công bằng đối với các nhà chủ trương đại kết của Công Giáo so với các Kitô hữu không Công Giáo là những người được quyền mang tới bàn đối thoại trọn bộ học lý đặc thù của họ. Ở đây, ta nên nhớ lại câu hỏi của Đức Gioan Phaolô II đã trích trên kia: “Trong Nhiệm Thể Chúa Kitô, đấng “là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14:6), ai dám coi là hợp pháp việc hòa giải mà lại làm hại đến chân lý cho được?” (17). Bởi thế, gọi Đức Trinh Nữ Diễm Phúc Maria là đấng đồng công cứu chuộc dưới ánh sáng Thánh Kinh và Thánh Truyền Kitô giáo không hề đi ngược lại việc đại kết, mà đúng hơn, sẽ tạo nên một thành tố yếu tính cho tính toàn vẹn Kitô giáo do việc đại kết chân thực kia đòi hỏi, vì việc đồng công cứu chuộc của Đức Maria làm nên giáo huấn học lý của Giáo Hội Công Giáo. Thực ra, nếu học lý đồng công cứu chuộc hiện đang làm một số Kitô hữu khó hiểu, vì đối với họ, nó phảng phất hình ảnh một nữ thần hay đưa ra những quan điểm thái quá về Đức Maria, thì xem ra lại càng thích hợp để phát biểu rõ ràng học lý Thánh Mẫu này cho các anh chị em Kitô hữu của chúng ta trong cuộc đối thoại đại kết. Cũng có thể có ích lợi nữa khi đức giáo hoàng chính thức xác định học lý này, như vậy sẽ cung cấp được sự soi sáng lớn lao nhất từ thẩm quyền cao nhất của Công Giáo. Như lời đức nguyên hồng y New York là John O’Connor từng nói: “Rõ ràng, một xác định chính thức của Đức Giáo Hoàng bằng một ngôn từ chính xác sẽ giúp các Kitô hữu khác hết lo lắng là chúng ta k hông chịu phân biệt một cách đầy đủ giữa việc Đức Maria liên kết độc đáo với Chúa Kitô và quyền lực cứu chuộc chỉ một mình Chúa Kitô có được” (18). Một cái nhìn đại kết hợp lý khác về việc Đức Maria đồng công cứu chuộc và sau đó vai trò làm mẹ thiêng liêng của Người là trong tư cách mẹ thiêng liêng của mọi người, Đức Maria có thể là phương thế chính tạo sự hiệp nhất giữa anh chị em Kitô hữu đang phân rẽ nhau, chứ không hẳn là trở ngại cho việc hiệp nhất ấy. Mục sư Giáo hội Luthêrô là Tiến sĩ Charles Dickson từng kêu gọi các giáo hội Thệ phản hãy xét lại việc bênh vực tích cực Đức Maria có đầy đủ tài liệu và lòng sùng kính Người nơi nhiều vị sáng lập, như Martin Luther chẳng hạn, trong bài bình luận Kinh Magnificat của ông, đã viết: “Xin Mẹ dịu hiền của Thiên Chúa ban cho con tinh thần khôn ngoan hữu ích và trọn vẹn để con trình bầy bài ca này của Người…Xin Chúa Kitô ban cho chúng ta cái hiểu đúng đắn… nhờ lời cầu bầu và nhân danh Mẹ Maria yêu qúy của Người…” (19). Luther sau đó xưng tụng Đức Maria là “xưởng thợ của Thiên Chúa”, là “Nữ Vương thiên đàng” và tuyên bố: “Đức Nữ Trinh Maria muốn nói đơn giản rằng bài chúc tụng của Người sẽ được ca hát từ đời này qua đời nọ để không bao giờ có lúc nào Người lại không được ca ngợi” (20). Về vai trò làm mẹ thiêng liêng phổ quát của Đức Maria như dụng cụ tạo hiệp nhất Kitô giáo, Tiến Sĩ Dickson viết tiếp: “Thời ta, ta vẫn còn đương đầu với sự phân rẽ đáng buồn giữa các Kitô hữu hoàn cầu. Ấy thế nhưng, trước thềm một kỷ nguyên đại kết đầy sáng lạng, Đức Maria như mẫu mực cho công giáo tính, cho phổ quát tính, lại càng trở nên quan trọng. Trong suốt nhiều thế kỷ từ lúc khởi đầu Giáo Hội, chức phận làm mẹ Giáo Hội là một vấn đề. Chức phận làm mẹ này không thể biến mất dù cho có phân rẽ. Đức Maria, nhờ chức phận làm mẹ, đã duy trì được tính phổ quát cho đoàn chiên của Chúa Kitô. Nếu toàn bộ cộng đồng Kitô giáo hướng lên Người, thì khả thể một hạ sinh mới, một hoà giải, sẽ gia tăng. Như thế, Đức Maria, mẹ Giáo Hội, cũng là nguồn suối hòa giải giữa các con cái tan tác và đang phân rẽ của Người” (21) |